Thừa lệnh vua Càn Long, Tôn Sĩ Nghị đem 20 vạn quân sang chiếm nước ta. Trong chiến dịch đại phá quân Thanh, Nguyễn Huệ đã đem võ lý vào chiến thuật một cách khoa học và sáng tạo.
1 - Thế phục hồi:
Trong võ lý, thời gian ra thế võ cần phải cân bằng với thời gian nghỉ ngơi, gọi là thế phục hồi. Chính nhờ có phương pháp lấy lại sức lực, nên cuộc đấu võ có thể kéo dài hàng giờ. Với võ Bình Định, nếu đánh bằng roi, thế phục hồi được gọi là “đứng chong roi”; nếu đánh bằng tay, gọi là “đứng ngựa.” Tiếng là nghỉ ngơi, nhưng đúng ra là cách đứng để vừa được nghỉ, vừa đón đối thủ xông tới; hoặc đứng để nghỉ, vừa chọn thế trận tốt nhất tấn công đối phương. Vì vậy, trong thế nghỉ, võ sĩ không bao giờ đứng thẳng 180 độ, mà khủy đầu gối và khủy tay hơi co lại trong thế thủ, người hơi khom, thu mình lại để toàn thân được bảo vệ.
H 1: Lễ Đống Đa tại Kiên Mỹ, Bình Định, 1972, biểu diễn thế võ phục hồi trong quân đội Tây Sơn. (Ảnh: cuongde.org)
Thưa bạn đọc,
Trước kia tôi định viết bài “Các Trường Trung Học Và Cao Đẳng Ở Tỉnh Bình Định Trong Thời VNCH” chừng vài chục trang, để vừa đủ cho một chương sách, chương thứ 7 trong tác phẩm “Giáo Dục Và Khoa Cử” gồm 10 chương. Nhưng sau nhiều lần bổ chính, nhất là đợt bổ chính mới đây, tôi đã đem hết những hình ảnh sinh hoạt của một số Trường Trung Học mà tôi đã từng cất giữ trên dưới 60 năm qua. Vì nếu hôm nay tôi không nhân đề tài này gửi các hình ảnh Trường cũ vào bài, thì mai kia tôi lìa đời, các hình ấy cũng sẽ tan biến. Bởi thế, bài viết có đến 144 hình ảnh, và cũng bổ sung nhiều chi tiết, tăng đến 112 trang đánh máy, nên đề tài này không còn là một chương sách mà trở thành một quyển sách, và nếu layout với khổ sách thông thường 13,5x21 cm, cũng sẽ tăng lên gần 200 trang.
Xin các bạn bấm vô đây để download/đọc bài “Các Trường Trung Học Và Cao Đẳng Ở Tỉnh Bình Định Trong Thời VNCH” (dạng PDF)
Ngày 27 tháng 4 năm 2020, vào khoảng trưa, điện thoại reo. Bên kia đầu dây giọng quen thuộc của Đường Anh Đồng, đương kim Hội Trưởng Hội Tây Sơn Bình Định Bắc California, nhưng hôm nay có vẻ thảng thốt:
- Em Đồng đây! Anh Bích chết rồi!”
Tai tôi còn thính, nhưng vẫn không tin mình đã nghe chính xác. Tôi hỏi lại:
- Sao? Đồng nói lại đi.
- Anh Bích chết khoảng nửa đêm về sáng hôm nay. Em vừa hay tin, vội báo cho Anh đây.
Nghe tin đột ngột, đầu óc tôi bổng trở nên hụt hẫng…
Với tôi, nói đến anh Đặng Đức Bích là cả một Khung Trời Kỷ Niệm:
San Jose, được mệnh danh là Thung Lũng Hoa Vàng, cứ đến mùa xuân hoa cải vàng đua nhau nở rộ trên các sườn đồi và những bãi đất hoang. San Joes còn có tên là Thung Lũng Điện Tử vì nơi đây quy tụ nhiều hãng xưởng lớn về Điện tử và Computer. Gọi là thung lũng vì San Jose được bao bọc bởi đồi núi và địa hình thấp dần về hướng trung tâm thành phố, tạo thành một lòng chảo. Ban đêm, thành phố lên đèn, nếu đứng ở sườn đồi nhìn xuống San Jose như một cái chảo khổng lồ rực sáng trời sao.
Vì thế San Jose, có khí hậu miền núi, ngày nóng đêm lạnh, có thể tạm nói bốn mùa thu gọn trong một ngày: buổi sáng là mùa xuân, đến trưa là mùa hè, về chiều chuyển sang mùa thu, và đêm khuya là mùa đông.
![]() San Jose có diện tích 181,4 mi². |
![]() Vào Xuân ở Thung Lũng Hoa Vàng. (Ảnh: Lê Hân |
Việt Nam có hai quần thể mang tên chùa Hương Tích, một ở Miền Trung và một ở Miền Bắc. Đường lên chùa, cả hai nơi, đều phải dùng thuyền ngược dòng suối và leo dốc vượt ngàn, mới đến được.
I - CHÙA HƯƠNG TÍCH Ở HÀ TĨNH
Trên dãy Hồng Lĩnh có 99 ngọn núi cao vút, cảnh trí đẹp đẽ và hùng vĩ, xứng đáng là “Hoan Châu Đệ Nhất Danh Lam.” Chùa Hương Tích còn gọi là chùa Tiên, nằm trên đỉnh Sư Tử núi Hương Tích, trong dãy Hồng Lĩnh, và thuộc địa phận xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Chùa cách Hà Nội chừng 300 km về hướng Nam. 
H 1: Đường lên chùa Hương Tích, Hà Tĩnh. (Ảnh của Dongson.vmvn, 2010, vi.wikipedia)
(Bài thuyết trình nhân lễ giỗ lần thứ 340 của Lộc Khê Hầu ngày 17- 10- Giáp Dần tức ngày 30- 11- 1974 tổ chức tại sân Trường Trung học Đào Duy Từ, An Nhơn; bổ chính ngày 12- 09- 2020 tại San Jose.)

H 1: Chiêng trống gióng lên, Quan khách đứng nghiêm chỉnh, Ban Tổ Chức cử hành tế lễ.
I - GIA THẾ VÀ THÂN THẾ
Nha Úy Nội Tán Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ (陶 維 慈) nguyên quán làng Hoa Trai (華 斎 村) [1], xã Vân Trai (雲 斎 社), tổng Liên Trì (蓮 池 總), huyện Ngọc Sơn (玉 山 縣), phủ Tĩnh Gia (靜 嘉 府), trấn Thanh Hoa (清 花 鎭) [2]; sau là thôn Sơn Thắng, xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia [3], tỉnh Thanh Hóa (清 化 省). Ông sinh năm Nhâm Thân tức năm 1572 đời Lê Anh Tông (1557 - 1573) trong thời Nam Bắc Triều và mất ngày 17/ 10/ Giáp Tuất tức năm 1634, hưởng thọ 63 tuổi ta.
Tôi bỏ vùng kinh tế mới ở Bình Long, về Sài Gòn sinh sống. Trong thời gian này, tôi suy nghĩ mãi, chẵng lẽ mình chịu chết già để rồi mục nát với cỏ cây hay sao? Món nợ “Cơm cha, Áo mẹ, Chữ thầy,” quên hết hay sao. Bài thơ Quê Tôi viết năm 1960, lúc tôi học ở Huế (1960), vẫn còn đó:
Tôi lớn lên trong vườn khoai ruộng thóc
Đọt rau bùi, trái chín ngọt tình thương...
Nhờ hai buổi trường làng, tôi biết đọc
Luyện tay mềm, tôi viết chữ “Quê Hương.”
(Trích Quê Tôi, đoạn 8)
Cho dù trong hoàn cảnh nghiệt ngã, không còn cầm phấn trên bục giảng, tôi phải cầm bút tô điểm cho Quê Hương. Đề tài đầu tiên tôi viết trong thời kỳ này là “Thổ Âm Và Thổ Ngữ Bình Định” và đang biên soạn đề tài “Thể Thơ Đường Luật.” Hai đề tài đó hợp với hoàn cảnh biên soạn của tôi lúc ấy, là không có tài liệu tham khảo. Vốn liếng về thổ âm và thổ ngữ Bình Định, tôi đã góp nhặt vào trí nhớ trong 12 năm dạy học tại quê nhà thường tiếp xúc dân chúng vùng An Nhơn và Tuy Phước; lúc tù “cải tạo” ở K 18 (Kim Sơn, Bình Định) hằng ngày gần gũi với đồng hương khắp tỉnh cùng cảnh ngộ. Còn với thể thơ Đường luật, kiến thức đã có sẵn trong đầu bởi những năm tháng dạy môn Quốc văn, mỗi lần bình giảng một bài thơ luật Đường của Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương,… tôi thường đề cập đến 10 luật cấm của thơ này; nào Luật Bằng trắc, Niêm, Vận, Đối, Khổ độc, Diễn đề, Phạm đề, Nhất khí, Trùng chữ, Trùng ý, và Kết cấu. Vâng, với tôi, các đề tài này không cần tài liệu, vẫn có thể tạm viết được, rồi chờ dịp tham khảo tài liệu sẽ bổ sung để được phong phú hơn.
I - TIỂU SỬ
Chân dung Đào Tấn (Ảnh thờ tại từ đường làng Vinh Thạnh)
Ông nguyên có tên là Đào Đăng Tấn, vì tránh quốc húy bỏ chữ Đăng (登), nên gọi gọn Đào Tấn (陶 進). Ông sinh ngày 27 tháng 2 năm Ất Tỵ, tức ngày 3- 4- 1845, niên hiệu Thiệu Trị thứ 5. Quê quán tại làng Vinh Thạnh, tổng Thời Tú, huyện Tuy Phước, phủ An Nhơn, tỉnh Bình Định; nay là thôn Vinh Thạnh 2, xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Mất ngày ngày rằm tháng 7 năm Đinh Mùi (Thành Thái thứ 19) nhằm ngày 23 tháng 8 năm 1907, hưởng thọ 62 tuổi.
Trong Email của Phan Tường Nghị gửi ngày 2 tháng 6 năm 2020, có đoạn: “Vì là tập sách đầu tay của em, nên xin phép Thầy Chương, nếu Thầy thấy được, thảo cho đôi lời giới thiệu thì thật quý cho em. Em vô vàn cảm kích. Chắc là Thầy không nỡ từ chối.”
Qua điện thư phúc đáp, đề ngày 9 tháng 6 năm 2020, tôi có đoạn viết: “Em Nghị có nhã ý nhờ tôi viết Lời Giới Thiệu tác phẩm ‘Bình Định Chuyện Xưa - Tuy Viễn Dấu Cũ.’ Nhận thấy Em nhiệt tình với sự nghiệp, và đồng điệu với tôi trên lãnh vực biên khảo, nên tôi nhận lời; mặc dù hiện nay mắt của tôi có vấn đề, hiện đang chữa trị, việc đọc và viết gặp khó khăn khi nhìn vào màn ảnh trên computer.” 
Ai đến Tuy Phước cũng biết câu hát của dân quê, về các phiên chợ trong phủ:
Chợ Huyện liệng Cây Gia,
Cây Gia xa chợ Mới,
Chợ Mới tới chợ Dinh,
Chợ Dinh rinh Bồ Đề,
Bồ Đề kề chợ Huyện. [1]
Phiên Huyện nhằm các ngày 1, 6, 11, 16, 21, 26 âm lịch; là phiên chợ lớn nhất của huyện nhà nhưng lại cách Phủ Mới (nay là thị trấn Tuy Phước) gần 4 cây số về phía Tây Bắc. Ngày phiên, không những dân trong vùng tập trung về mà còn đủ mặt dân buôn từ xa đến. Họ mua gom sản phẩm địa phương và bán hàng hóa ở nơi khác mang tới. Con đường Quốc lộ 1, từ phủ lỵ [2] đến chợ Huyện, người mua kẻ bán đi lại tấp nập, có cả những chàng trai dạo chơi tìm ý trung nhân, ca dao có câu:
Copyrights © nthqn.org 2009-2020.